Tranh chấp thừa kế

 Một số lưu ý khi giải quyết tranh chấp thừa kế
a. Di sản thừa kế

Giải quyết tranh chấp thừa kếDi sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho những người còn sống. Theo quy định tại Điều 612 Bộ Luật dân sự 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác..” Di sản thừa kế có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản.

Việc xác định di sản thừa kế mà người chết để lại căn cứ vào giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó. Đối với trường hợp di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu chung thì việc xác định tài sản chung của người để lại di sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Theo quy định của pháp luật, tranh chấp di sản thừa kế bao gồm tranh chấp buộc người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản hoặc yêu cầu chia di sản thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật).

Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

    Chi hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;
    Tiền cấp dưỡng còn thiếu;
    Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;
    Tiền công lao động;
    Tiền bồi thường thiệt hại;
    Thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước;
    Tiền phạt;
    Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác;
    Chi phí cho việc bảo quản di sản;
    Các chi phí khác.

 


b. Quy định về hàng thừa kế

Điều 629, Bộ Luật dân sự 2015 quy định về hàng thừa kế theo pháp luật như sau:

    Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
    
    Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
    
    Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định trên có thể thấy tranh chấp về hàng thừa kế là những tranh chấp về yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác, chủ yếu phát sinh giữa những người thừa kế trong cùng một hàng thừa kế, đặc biệt là những trường hợp con nuôi, con ngoài giá thú.

 Ngoài ra, tranh chấp về hàng thừa kế có thể phát sinh do tại thời điểm mở thừa kế không có ai ở hàng thừa kế trước và sau khi đã chia thừa kế cho những người ở hàng thừa kế sau thì xuất hiện người thừa kế ở hàng thừa kế trước...
 
c. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế

Để xác định được thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế thì trước tiên phải xác định được yêu cầu giải quyết tranh chấp về thừa kế của nguyên đơn có phải là tranh chấp về bất động sản không. Nếu yêu cầu của nguyên đơn là tranh chấp về bất động sản thì Tòa án nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết khi tại địa bàn huyện có nhà đất của người để lại thừa kế; nếu di sản là bất động sản không nằm trên địa bàn huyện thì tòa án nhân dân huyện không có thẩm quyền giải quyết.

Tranh chấp thừa kế


Lỗi phổ biến khi xử tranh chấp thừa kế:
Nhiều tòa quên không đề cập đến công sức duy trì, bảo quản di sản... dẫn đến việc kháng cáo, kháng nghị kéo dài, bản án bị cấp giám đốc thẩm hủy. Theo tòa phúc thẩm, án sơ thẩm có thiếu sót về việc chưa thanh toán chi phí bảo quản di sản thừa kế trước khi chia di sản… như ý kiến của đại diện VKS và luật sư. Tuy nhiên, tòa phúc thẩm nhận định không nhất thiết phải hủy án vì thiếu sót này tòa có thể khắc phục. Từ đó, tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm, áp dụng Điều 683 Bộ luật Dân sự, trích ra 10% giá trị tài sản thừa kế cho ông Hường.

 Nếu yêu cầu của nguyên đơn không phải là tranh chấp về bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết được xác định theo Điều 39, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (là Tòa án nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn hoặc theo sự lựa chọn của nguyên đơn).
 
II. DỊCH VỤ LUẬT SƯ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ

Chúng tôi có kinh nghiệm Giải quyết tranh chấp về quyền thừa kế, hàng thừa kế, tài sản thừa kế, giá trị pháp lý của di chúc:

    Tư vấn luật, xác định quyền thừa kế theo quy định;
    
    Tư vấn xác định tài sản thừa kế hợp pháp hoặc không hợp pháp theo quy định luật thừa kế;
    
    Tư vấn xác định hàng thừa kế để chia thừa kế. Giải quyết tranh chấp trong việc chia thừa kế theo pháp luật, chia; thừa kế theo di chúc giữa các đồng thừa kế;
    
    Hướng dẫn và tư vấn cho khách hàng trình tự thủ tục khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách chủ thể và soạn đơn khởi kiện gửi đến Tòa án có thẩm quyền;
    
    Tham gia gia tố tụng với tư cách là luật sư- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của  khách hàng tại các cấp tòa xét xử;

    Thừa kế là nội dung tranh chấp tương đối phổ biến trong tranh chấp dân sự. Thông thường tranh chấp về thừa kế thường liên quan đến nội dung tranh chấp về tài sản thừa kế và tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại.

Để quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế được nhanh chóng, thuận lợi nhất, Công ty Luật Việt An cung cấp dịch vụ tư vấn giải quyết tranh chấp thừa kế bao gồm:

Dịch vụ giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc

Giấy phép lao động (work permit)


    Tư vấn giải quyết tranh chấp liên quan đế  hình thức và nội dung của di chúc đã lập;
    Tư vấn giải quyết tranh chấp về việc chỉ định người thừa kế, người bị truất quyền hưởng di sản;
    Tư vấn giải quyết tranh chấp cách phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
    Tư vấn giải quyết tranh chấp về cách phân chia di sản để tặng cho, thờ cúng;
    Tư vấn giải quyết tranh chấp về giao nghĩa vụ cho những người thừa kế;
    Tư vấn giải quyết tranh chấp liên quan đến vấn đề lập di chúc chung của vợ chồng;
    Tư vấn giải quyết tranh chấp liên quan hiệu lực pháp luật của di chúc.

Các tranh chấp về thừa kế theo pháp luật

    Tư vấn giải quyết tranh chấp đối với các trường hợp thừa kế theo pháp luật;
    Tư vấn giải quyết tranh chấp liên quan đến xác định người thừa kế theo pháp luật;
    Tư vấn giải quyết tranh chấp liên quan đến thừa kế thế vị;
    Tư vấn giải quyết tranh chấp về quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ, Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế;
    Tư vấn giải quyết tranh về việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác
    
    Tranh chấp đất đai có nguồn gốc hình thành từ tài sản thừa kế là một trong những dạng tranh chấp khá phổ biến và nó thường diễn ra giữa các người thân trong gia đình như anh em, họ hàng, bố con, cha mẹ với con cái....
    Theo quy định tại Điều 612 BLDS 2015 di sản gồm có tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
    
Người thừa kế (người hưởng di sản thừa kế của người đã chết theo di chúc hoặc theo pháp luật), tại Điều 613 BLDS 2015 quy định: Người thừa kế là cá nhân phải là người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã hình thành thai trước khi người để lại di sản chết, là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Quy định về người lập di chúc: Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc hợp pháp, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc; Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật dân sự 2015 có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

Hình thức di chúc: Có hai hình thức để lại di chúc đó là văn bản và di chúc miệng; Di chúc phải lập bằng văn bản nhưng trong một số trường hợp có thể lập di chúc miệng. Và di chúc miệng chỉ được công nhận là hợp pháp trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản và sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, sáng suốt, minh mẫn thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ (điều 629).